Sốt ở trẻ dưới 5 tuổi: Tiếp cận và xử trí ban đầu (Phần 1)

Bạn đang lo lắng vì bé nhà mình bị sốt?
Bạn đã từng bối rối vì khi bé bị sốt cao, bạn đưa đến bệnh viện nhưng bác sĩ bảo nên về nhà chăm sóc, cùng lời dặn dò “không sao đâu, đừng lo lắng”.
Sốt là trong những biểu hiện thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi. Đa số các trường hợp trẻ bị sốt có thể được chăm sóc tại nhà, nhưng một số trường hợp cần sự hỗ trợ khẩn cấp của bác sĩ. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những tình huống có thể xảy ra khi bé bị sốt, và cách mà bác sĩ của chúng ta sẽ thăm khám, xử trí và đưa ra lời tư vấn cho ba mẹ sau khi thăm khám. Sự hiểu biết về quá trình thăm khám sẽ giúp ba mẹ an tâm hơn và hợp tác tốt hơn cùng bác sĩ chăm sóc cho bé yêu của mình. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé!

Lưu ý: Bài viết này giúp ba mẹ tìm hiểu những điều bác sĩ sẽ thực hiện khi thăm khám cho một trẻ bị sốt. Trong cùng chủ đề sốt ở trẻ em này, chúng ta còn có những bài khác trong cùng chủ đề sẽ hướng dẫn cụ thể hơn để chính ba mẹ có thể  xử trí khi con mình bị sốt, và biết được khi nào cần đưa đến bác sĩ, khi nào cần đưa đi cấp cứu ngay.

ĐO NHIỆT ĐỘ VÀ PHÁT HIỆN SỐT

Câu hỏi đầu tiên, quan trọng nhất những đã gây không ít bối rối cho ba mẹ là “bé có sốt không?”. Mở đầu cuộc thăm khám, sau khi hỏi về tình trạng chung của bé, bác sĩ sẽ đo nhiệt độ cơ thể bé bằng nhiệt kế. Có nhiều loại nhiệt kế và nhiều vị trí đo có thể lựa chọn.

Đo nhiệt độ ở miệng và hậu môn

Đối với trẻ nhỏ hơn 5 tuổi: không đo thường quy ở 2 vị trí này

Đo nhiệt độ cơ thể ở những vị trí khác

  • Trẻ sơ sinh dưới 4 tuần tuổi: đo thân nhiệt bằng nhiệt kế điện tử kẹp nách
  • Trẻ 4 tuần tới 5 tuổi: có thể đo bằng một trong những cách sau:
    • Nhiệt kế điện tử kẹp nách
    • Nhiệt kế hóa học kẹp nách
    • Nhiệt kế hồng ngoại trong tai (màng nhĩ)
    • Nhiệt kết hồng ngoại đo ở trán có độ tin cậy, độ chính xác cao, dễ sử dụng [2] nên được sử dụng thường xuyên nhất
Nguồn: omronweb.com

Cảm nhận chủ quan của ba mẹ và người chăm sóc

Bác sĩ sẽ nghiêm túc ghi nhận cảm nhận chủ quan của ba mẹ về việc bé bị “nóng”, “sốt” và xem đó là một thông tin có giá trị.

THĂM KHÁM KHI TRẺ BỊ SỐT

Các vấn đề đe dọa tính mạng ở trẻ bị sốt

Đầu tiên, bác sĩ sẽ lập tức tìm và phát hiện bất kỳ dấu hiệu đe dọa tính mạng nào, bao gồm tổn thương đường thở, hô hấp, tuần hòan, và giảm ý thức. Câu hỏi quan trọng nhất bác sĩ cần trả lời là “liệu bé có đang trong tình trạng shock nhiễm trùng không?”, vì đây là một tình huống rất nguy hiểm, cần chuyển đi cấp cứu ngay lập tức.

Tiếp cận nguy cơ của các bệnh nghiêm trọng

  • Bác sĩ sẽ sử dụng Hệ thống Đèn giao thông (bảng 1) để kiểm tra có hay không các triệu chứng có thể dự báo nguy cơ của các bệnh nghiêm trọng.

Hệ thống Đèn giao thông – Bảng 1 được xây dựng để có thể đánh giá nhanh một trẻ bị sốt đang trong tình trạng nguy hiểm hay không. Tại nhà, ba mẹ có thể sử dụng bảng này để đánh giá trẻ và cung cấp thông tin cho bác sĩ tại buổi thăm khám.

  • Có một số dấu hiệu giúp bác sĩ/ba mẹ nhận biết các trẻ trong nhóm nguy cơ cao mắc các bệnh nghiêm trọng:
    • Da, môi và lưỡi màu nhợt nhạt/lốm đốm/xám/xanh
    • Không đáp ứng với các giao tiếp xã hội (đáp lại khi được gọi tên, mỉm cười hay cười khúc khích)
    • Bác sĩ nhận thấy trẻ có vẻ yếu, bệnh (appearing ill)
    • Không thức tỉnh, hoặc không duy trì thức tỉnh dù có bị lay gọi
    • Liên tục khóc với âm thanh yếu ớt, the thé
    • Rên rỉ
    • Nhịp thở hơn 60 lần/phút
    • Rút lõm lồng ngực vừa hay nặng
    • Giảm độ căng của da
    • Thóp phồng
  • Bắt mạch: trẻ có nhịp tim nhanh được xếp vào nhóm nguy cơ trung bình trở lên. Sử dụng tiêu chuẩn APLS (Advanced Paediatric Life Support) để xác định nhịp nhanh:
    • <12 tháng: > 160 l/p
    • 12-24 tháng: >150 l/p
    • 2-5 tuổi: >140 l/p
  • Phát hiện trẻ có dấu hiệu mất nước hay không:
    • Kéo dài thời gian đổ đầy mạch
    • Độ căng da bất thường
    • Hô hấp bất thường
    • Mạch yếu
    • Chi không ấm

Bảng 1: Hệ thống Đèn giao thông để xác định nguy cơ của các bệnh nghiêm trọng

Nguồn: thrillist.com

Trẻ bị sốt kèm với bất kỳ triệu chứng cơ năng hay triệu chứng thực thể nào ở cột màu đỏ cần được nhận biết là nguy cơ cao. Tương tự, trẻ bị sốt và có triệu chứng ở cột màu vàng và không có triệu chứng nào ở cột màu đỏ có nguy cơ trung bình. Trẻ có triệu chứng ở cột màu xanh và không cột nào khác thì ở nguy cơ thấp. Cách xử trí trẻ bị sốt liên quan trực tiếp đến mức nguy cơ của trẻ.

Bảng Hệ thống Đèn giao thông này nên được sử dụng kèm với các khuyến cáo khác về thăm khám và xử trí ban đầu cho trẻ bị sốt trong guideline này.

  Xanh – thấp Vàng – vừa Đỏ – cao
Màu da, môi, lưỡi Bình thường Ba mẹ/người chăm sóc cho rằng trẻ xanh xao, tái nhợt Nhợt nhạt/lốm đốm/xám/xanh
Hoạt động – Đáp ứng bình thường với giao tiếp xã hội

– Biểu hiện cảm xúc có chủ ý/cười

– Thức tỉnh hoặc nhanh chóng thức tỉnh

– Khóc mạnh mẽ bình thường/không khóc

– Không đáp ứng bình thường với giao tiếp xã hội

– Không cười

– Chỉ thức tỉnh khi kích thích một hồi lâu

– Giảm hoạt động

– Không đáp ứng với giao tiếp xã hội

– NVYT nhận thấy trẻ có vẻ bệnh, yếu ớt

– Không thức tỉnh hoặc không duy trì thưc stinhr

– Khóc yếu ớt, the thé

Hô hấp   – Phập phồng cánh mũi

– Thở nhanh:

6-12 tháng: >50 l/p

>12 tháng: >40l/p

– Độ bão hòa oxy ≤95% khi thở khí trời

– Nghe ran phổi

– Rên rỉ

– Mạch nhanh – thở nhanh >60 l/p

– Rút lõm lồng ngực vừa hoặc nặng

Tuần hoàn và dịch – Da và mắt bình thường

– Các màng niêm mạc ẩm ướt

– Tim nhanh

    -<12 tháng: >160 l/p

    -12-24 tháng: >150 l/p

    – 2-5 tuổi: >140 l/p

– Giảm độ căng của da
Khác – Không có bất kì triệu chứng nào ở cột đèn vàng và đèn đỏ – Tuổi 3-6 tháng: thân nhiệt >390C

– Sốt ≥5 ngày

– Lạnh run (rigors)

– Sưng tay/chân/khớp

– Tay/chân không cử động

– Tuổi <3 tháng: thân nhiệt ≥ 380C

– Phát ban không nổi trên da (non-blanching rash)

– Thóp phồng

-Cổ gượng

– Trạng thái động kinh liên tục (status epilepsy)

– Triệu chứng thần kinh định vị

– Động kinh thùy trán

*Một số vaccin gây ra sốt ở trẻ dưới 3 tháng tuổi

 

Bảng 2: Bảng tóm tắt các triệu chứng gợi ý các bệnh cụ thể

Chẩn đoán nghĩ đến Triệu chứng đi kèm với sốt
Viêm màng não do não mô cầu Phát ban không nổi trên da, đặc biệt là kèm với 1 hay nhiều triệu chứng:

– Trẻ nhìn có vẻ bệnh, yếu ớt

– Sang thương lớn hơn 2mm (purpura)

– Thời gian tái đổ đầy ≥3 giây

– Cổ gượng

Viêm màng não do vi khuẩn – Cổ gượng

– Thóp phồng

– Giảm ý thức

– Trạng thái động kinh liên tục

Viêm não do Herpes simplex – Triệu chứng cơ năng của tổn thương thùy trán

– Động kinh thùy trán

– Giảm ý thức

Viêm phổi – Thở nhanh (nhịp thở  >60 l/p ở trẻ 0-5 tháng; >50 l/p ở trả 6-12 tháng; >40 l/p ở trẻ >12 tháng)

– Nghe ran ở ngực

– Phập phồng cánh mũi

– Rút lõm lồng ngực

– Tím

– Độ bão hòa oxy ≤95%

Nhiễm trùng tiểu – Ói

– Ăn uống kém

– Hôn mê

– Bứt rứt

– Đau bụng hoặc mềm bụng (tenderness)

– Tiểu nhiều lần hoặc tiểu khó

Viêm khớp nhiễm trùng – Sưng tay/chân hoặc khớp

– Không sử dụng tay/chân

– Không chịu được sức nặng (non-weighted bearing)

Bệnh Kawasaki Sốt hơn 5 ngày hoặc ít nhất 4 trong các triệu chứng:

– Giãn mạch máu kết mạc 2 bên (bilateral conjuntival injection)

– Thay đổi màng niêm mạc

– Thay đổi ở tay/chân

– Các ban đa dạng

– Hạch cổ lớn

 

Triệu chứng của các bệnh cụ thể

  • Sau khi đánh giá mức độ nguy cơ bệnh nghiêm trọng ở trẻ, bác sĩ sẽ cố gắng tìm kiếm nguồn gốc gây sốt và kiểm tra các triệu chứng liên quan đến một số bệnh cụ thể (bảng số 2).
  • Các nguyên nhân gây sốt thường được quan tâm đánh giá bao gồm: viêm màng não do não mô cầu, viêm màng não do vi khuẩn, viêm não do Herpex simplex, viêm phổi, nhiễm trùng tiểu, viêm khớp nhiễm trùng, bệnh Kawasaki

Sau khi hoàn thành 3 bước thăm khám là đo thân nhiệt, đánh giá nguy cơ của các bệnh nghiêm trọng, tìm triệu chứng của các bệnh cụ thể, bác sĩ sẽ giải thích, thảo luận cùng ba mẹ và đưa ra những quyết định điều trị thích hợp.

Bài tiếp theo trong chủ đề này sẽ tiếp tục cùng ba mẹ khám phá những quyết định điều trị của bác sĩ trong những trường hợp cụ thể. Chúng ta hãy cũng tìm hiểu “Sốt ở trẻ dưới 5 tuổi – tiếp cận và xử trí ban đầu (P2)” nhé.

Tác giả: Nguyễn Trung Nghĩa 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NICE (2017), Fever in under 5s: assessment and initial management, nice.org.uk/guidance/CG160, accessed on 06 August 2019

G. Teran, J. Torrez-Llanos, T. E. Teran-Miranda, C. Balderrama, N. S. Shah, P. Villarroel (2012) “Clinical accuracy of a non-contact infrared skin thermometer in paediatric practice”. Child Care Health Dev, 38 (4), 471-6.

Chuyên mục: Nhi, Phòng khám
| Ngày đăng: - Cập nhật lần cuối: 17/08/2019

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *