Đái dầm

Hình ảnh một đứa trẻ với bộ đồ ngủ và ra giường ướt sũng nước là một cảnh khá quen thuộc trong nhiều ngôi nhà. Nhưng đừng tuyệt vọng. Đái dầm không phải là dấu hiệu của dạy dỗ trẻ đi vệ sinh đúng nơi thất bại. Đái dầm thường chỉ là một phần trong sự phát triển chủa trẻ. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin hữu ích về “đái dầm”.

1. Đái dầm có phổ biến không?

Đái dầm khá phổ biến ở những trẻ đang trong thời kì được dạy dỗ cách đi vệ sinh. Khoảng 20% trẻ em có vấn đề với đái dầm khi 5 tuổi và có đến 10% trẻ vẫn còn đái dầm khi 7 tuổi. Đến tuổi thiếu niên, tỉ lệ đái dầm ước tính từ 1% đến 3% trẻ em. Đái dầm gặp ở trẻ trai gấp 2 lần trẻ gái.

Có 2 loại đái dầm:

  • Đái dầm nguyên phát: trẻ chưa bao giờ kiểm soát được đi tiểu và thường đái dầm về đêm
  • Đái dầm thứ phát: trẻ đã không còn đái dầm ít nhất 6 tháng nhưng bây giờ lại bị đái dầm lại

Trong đó, đái dầm nguyên phát thường gặp nhiều hơn. Đái dầm thứ phát gặp ở trẻ lớn nên được đi khám bác sĩ. Bởi đái dầm trong lứa tuổi này có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng tiểu hoặc những vấn đề sức khỏe khác như vấn đề thần kinh, căng thẳng…

2. Nguyên nhân của đái dầm là gì?

Mặc dù, nguyên nhân tại sao đái dầm lại xảy ra vẫn chưa được biết rõ, người ta cho rằng đái dầm là do sự chậm phát triển của ít nhất một trong ba yếu tố sau:

  • Bàng quang: bàng quang khá đầy vào bang đêm
  • Thận: tạo nhiều nước tiểu trong đêm
  • Não: khó thức dậy khi đang ngủ

Ở trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi, sự liên kết giữa não bộ và bàng quang chưa được hình thành đầy đủ, do đó bàng quang sẽ phóng thích nước tiểu bất kì khi nào bị đầy. Khi trẻ lớn hơn, các kết nối não – bàng quang phát triển, điều này giúp não bộ kiểm soát tốt bàng quang hơn, vì vậy đái dầm sẽ giảm dần theo lứa tuổi. Kiểm soát não bàng quang thường phát triển vào ban ngày trước và phải mất nhiều thời gian sau đó mới có thể kiểm soát vào ban đêm. Do đó trẻ thường bị đám dầm vào ban đêm nhiều hơn ban ngày

Những yếu tố nguy cơ

  • Di truyền: nếu cha hoặc mẹ sau 5 tuổi vẫn đái dầm thì khoảng 40% con mắc đái dầm. Nếu cả cha và mẹ đều đái dầm khi còn nhỏ thì tỉ lệ này lên đến 70%.
  • Căng thẳng: Căng thẳng là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất cho đái dầm thứ phát. Trẻ có thể gặp căng thẳng khi chuyển đến nhà mới, trường học mới hoặc cha mẹ li hôn, mất người thân hoặc trải qua một sự kiện khó khăn trong đời. Điều trị căng thẳng có thể loại bỏ được đái dầm.
Căng thẳng có thể khiến trẻ bị đái dầm
  • Giấc ngủ sâu: mô hình giấc ngủ sâu có thể là một phần của sự phát triển bình thường ở trẻ thanh thiếu niên, tuy nhiên cũng có thể do trẻ ngủ quá ít giờ, chất lượng giấc ngủ kém.
  • Hội chứng ngưng thở khi ngủ: Trong một số ít trường hợp, đái dầm xảy ra do trẻ bị ngưng thở khi ngủ và ngủ ngáy. Trẻ em mắc bệnh này thường đường thở bị tắt nghẽn một phần và có thể dẫn đến ngưng thở vài giây khi ngủ.
  • Táo bón: Bàng quang và ruột nằm rất gần nhau trong cơ thể. Khi bị táo bón (ruột bị tắt nghẽn) có thể kích thích bàng quang và làm mất kiểm soát bàng quang. Điều trị táo bón là bước đầu tiên trong điều trị đái dầm những trường hợp này.
Táo bón cũng góp phần gây đái dầm
  • Những bệnh lý thận, bàng quang: những trường hợp này trẻ thường đái dầm cả ban ngày và ban đêm. Đồng thời trẻ có thể có thêm các triệu chứng khác như đau khi đi tiểu, tiểu lắt nhắt
  • Bệnh thần kinh: đôi khi một số vấn đề về tủy sống có thể gây ra đái dầm. Nếu như con bạn có các triệu chứng khác như tê, đau ở chân, yếu chân, thì cần xem xét các vấn đề về cột sống có thể được xem xét. Tuy nhiên, đây là một nguyên nhân rất hiếm gặp của đái dầm.
  • Thuốc và những bệnh lý khác: Trong một số ít các trường hợp, tiểu đường có thể gây đái dầm ở trẻ em. Một số nghiên cứu cho thấy những trẻ bị tăng động, giảm chú ý có nguy cơ đái dầm cao hơn. Một số loại thuốc cũng có thể làm tăng nguy cơ đái dầm.

3. Đái dầm sẽ tác động đến trẻ và gia đình như thế nào?

Đái dầm có thể tác động đến cảm xúc của cả trẻ và gia đình của trẻ. Trẻ có thể cảm thấy xấu hổ, lo lắng hoặc tự ti. Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ của trẻ, chất lượng cuộc sống, cũng như việc học. Trẻ bị đái dầm có thể cảm thấy như trẻ không thể đi chơi xa, không thể qua đêm với bạn bè. Anh chị em của trẻ có thể phải ngủ riêng. Các thành viên trong gia đình có thêm công việc lau chùi phòng, giường nệm và quần áo bẩn.

Điều rất quan trọng cần nhớ là đái dầm không phải là lỗi của con bạn và con bạn không thể kiểm soát được việc này. Các thành viên trong gia đình và bạn bè không nên cảm thấy xấu hổ, trêu chọc bé hay trừng phạt. Thay vào đó, hãy tập đến khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân và thực hiện các bước sau để giúp đỡ trẻ.

Trẻ có thể cảm thấy xấu hổ
Trẻ có thể cảm thấy xấu hổ

4. Có cách nào điều trị đái dầm cho trẻ?

Có cách. Tuy nhiên, việc điều trị đái dầm còn phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra nó là gì. Nhìn chung, nếu trẻ được điều trị tích cực có cơ hội giảm hoặc ngừng đái dầm.

4.1 Chuông báo động đi tiểu

Nghiên cứu cho thấy khoảng một nửa số trẻ sử dụng báo động đi tiểu đúng sẽ giúp trẻ hạn chế được đái dầm sau một vài tuần. Những báo động này sẽ kêu hoặc rung khi đồ lót của trẻ bị ướt. Theo thời gian, não bộ sẽ được huấn luyện tại liên kết cần đi tiểu. Phương pháp này cần có sự tham gia tích cực của người lớn để đảm bảo trẻ thức hoàn toàn và đi vệ sinh khi chuông báo kêu.

Báo động đi tiểu
4.2 Thuốc

Thuốc được dùng đầu tiên là Desmopressine dưới dạng bơm xịt vào mũi cho trẻ trước khi đi ngủ. Loại thuốc này có tác dụng làm giảm bài tiết nước tiểu tránh tè dầm ban đêm. Ngoài ra có thể dùng thuốc Oxybutinine. Thuốc này tác động lên cơ của bàng quang, giúp bàng quang giữ được nước tiểu trong bàng quang tốt hơn và như thế giúp trẻ tự chủ được việc đi tiểu của mình.

Đái dầm là một triệu chứng khá thường gặp ở trẻ. Vì vậy, thêm một chút quan tâm, một chút thông cảm và một kiên trì sẽ giúp cho con bạn vượt qua khó khăn này trong những năm đầu đời.

Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Đào Uyên Trang

Chuyên mục:
| Ngày đăng: - Cập nhật lần cuối: 14/02/2020

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

https://www.healthychildren.org/English/health-issues/conditions/genitourinary-tract/Pages/Nocturnal-Enuresis-in-Teens.aspx, truy cập 4/2/2020

 

 

Đặt lịch khám dễ dàng cùng YouMed: