Thông tin bảo trợ bởi

Ngải cứu giá trị dược liệu quý chống sốt rét

Tham vấn y khoa:
Bác sĩ Hạ Chí Lộc
Ngải cứu giá trị dược liệu quý chống sốt rét

Ngải cứu, cây thuốc cứu Artemisia Vulgaris là một trong những loài cây thuốc quan trọng thuộc chi Artemisia. Một nhánh của học Cúc Asteraceae. A. Vulgaris có một lịch sử lâu dài trong việc điều trị bệnh bằng cây thuốc ở nhiều nơi trên thế giới. Loài cây này sở hữu một nhóm khá rộng với những đặc tính trị liệu. Bao gồm: chống sốt rét, chống viêm, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, ngừa tổn thương gan, chống co thắt và chống nhiễm trùng. Những tác dụng nêu trên là do sự góp mặt các hoạt chất. Bao gồm flavonoid, sesquiterpene lacton, coumarin, acetylenes, axit phenolic, axit hữu cơ, mono- và sesquiterpen.

1. Công dụng Ngải cứu

Ngải cứu có một lịch sử lâu dài trong hệ thống y học cổ truyền ở nhiều nơi trên thế giới. Trung Quốc đã sử dụng làm giảm đau dạ dày và điều trị loét dạ dày. Gần đây còn được dùng trong điều trị viêm gan, co giật và vàng da sơ sinh kết hợp với điều trị châm cứu. Ngoài ra, thuốc cứu giúp hạ đường huyết, chống nhiễm trùng, thuốc lợi tiểu, giảm đau, chống giun sán. Được xem là một loại thuốc hữu ích trong điều trị bệnh thấp khớp, hen suyễn và động kinh.

Ngải cứu

2. Câu chuyện Ngải cứu

Tên của chi Artemisia đã đến từ nữ thần săn bắn Hy Lạp. Nữ hoàng Artemisia là một trong những nhà y học và thực vật nổi tiếng. Cũng là người xây dựng lăng mộ cho Mausolus, một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại.

Truyền thuyết kể rằng, danh y Tôn Tư Mạc còn là một cậu bé 5 tuổi. Ông đã theo cha đi khắp nơi khám bệnh và lên núi hái thuốc. Một lần nọ, khi đang đi hái thuốc gặp một bằng hữu nhí bị té rất đau và khóc rất nhiều. Ông bèn tìm xung quanh, phát hiện một loại cây cỏ nên nhai và đắp cho bạn của mình. Cậu bé ngưng khóc và vết thương bớt đau hơn. Người bạn này mới hỏi tên cây thuốc kỳ diệu này, Tôn Tư Mạc mới suy nghĩ và lấy tiếng khóc “ai! ai! ai!” (theo phiên âm Trung Quốc) của bạn mình làm tên. Từ đó gọi là Ngải diệp, chính là ngải cứu của chúng ta hiện nay.

Ngải cứu trong các bữa ăn của người Nhật Bản

2. Thành phần hóa học Ngải cứu

Ngải cứu được biết đến với loại thực vật chứa nhiều flavonoid khác nhau. Bao gồm 7 hoạt chất thuộc nhóm flavones, 2 thành phần thuộc glycoside flavone, flavanone, flavonol và 8 hoạt chất thuộc nhóm flavonol glycoside. Eriodictyol và luteolin là các hợp chất phong phú nhất trong số tất cả các đề cập ở trên. Eriodictyol có đặc tính chống viêm. Việc bổ sung eriodictyol có thể phát huy tác dụng có lợi trong điều trị bệnh võng mạc tiểu đường. Luteolin sở hữu một loạt các hoạt động sinh học. Bao gồm chống ung thư, kháng khuẩn và chống oxy hóa.

3. Tinh dầu ngải cứu

Tinh dầu của ngải cứu chủ yếu là các hợp chất dễ bay hơi. Bao gồm α-pinen,
long não, camphene, germacrene D, 1,8-cineole, β-caryophyllene and α-thujone. Các nhà khoa học xác định 51 hợp chất trong tinh dầu. Các thành phần và sản lượng tinh dầu (0,1% – 1,4%) của Ngải cứu phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc địa lý, điều kiện môi trường. Cũng như sự phát triển theo từng giai đoạn của cây. Bên cạnh tinh dầu Ngải cứu bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Tinh dầu trầu không: 20 công dụng hữu ích tuyệt vời.

4. Hoạt động dược lý của Ngải cứu

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các hoạt động sinh học đa dạng của Ngải cứu. Do cây có số lượng dược tính cao và được ứng dụng nhiều trong y học.

4.1. Giảm đau

Ngải cứu được dùng như một chất giảm đau trong khi kết hợp với liệu pháp châm cứu. Ngoài ra, thuốc cứu cũng được sử dụng như một gia vị trong những nền văn hóa phương Tây. Nó cũng đã được sử dụng để tạo hương vị trà và các món cơm ở châu Á. Lá non đã được sử dụng như hương liệu khử mùi trứng, thịt và cá. Như Việt Nam ta có món trứng ráng ngải cứu.

4.2. Chống muỗi

Tinh dầu Ngải cứu có tác dụng diệt côn trùng như muỗi Aedes aegypti được biết đến là một vectơ của các bệnh như sốt xuất huyết, sốt vàng da và ấu trùng chikungunya. Hơn nữa tinh dầu này được báo cáo là hoạt tính biểu hiện 90% chống lại A. aegypti.

4.3. Chống ký sinh trùng

Mức độ chống lại ký sinh trung được đánh giá ở mức độ trung bình. Chiết xuất từ lá chống ký sinh trùng sốt rét Plasmodium yoelii khi dùng đường uống.

Thuốc artemisinin, được tìm thấy trong ngải cứu, là một loại thuốc chống sốt rét. Sự có mặt của một gốc endoperoxide trong cấu trúc của artemisinin là giải pháp chống sốt rét trong nhiều giai đoạn phát triển ký sinh trùng. Kết hợp các dẫn xuất artemisinin và các thuốc chống sốt rét khác, thường được gọi là artemisinin liệu pháp kết hợp do WHO đề xuất 2006. 

4.4. Khói từ ngải cứu

Xông khói tinh dầu ngải cứu có khả năng chống lại ruồi nhà, mọt đỏ, mọt đậu và mọt đục hạt. Các đặc tính diệt côn trùng của tinh dầu ngải cứu là do sự hiện diện của camphene, chloro và α-Thujone. Long não trong tinh dầu có đặc tính chống sâu bướm. Do đó, được sử dụng làm chất bảo quản trong mỹ phẩm và dược phẩm. Nhiều thành phần trong tinh dầu được so sánh tương đương với chất oxy hóa chuẩn và được xem như chất tự nhiên để bảo quản thực phẩm.

4.5. Kháng khuẩn

Tinh dầu ngải cứu có tác dụng kìm hãm sự phát triển của các loại vi khuẩn, côn trùng và ký sinh trùng khác nhau. Hoạt động chống vi khuẩn của tinh dầu có tác dụng trên Staphylococcus aureus, Staphylococcus cholermidis, Enterococcus faecalis, Enterobacter cloacae, Escherichia coli, Salmonella typhimurium và Candida albicans.   Các hoạt động chống vi khuẩn của tinh dầu từ đến từ các hoạt chất α-thujone, 1,8-cineole và camphene.

Các diterpene lactone chính được tìm thấy trong nhóm cho thấy đặc tính chống vi khuẩn và chống viêm cao. Ngoài ra, có khả năng chống oxy hóa khi tế bào bị stress oxy hóa.

5. Tóm lại

Ngải cứu là một loại thảo dược quen thuộc, trong một số trường hợp có thể sử dụng ngoài da, chườm ấm như một kinh nghiệm dân gian. Hoặc là sử dụng như một gia vị trong món ăn hằng ngày. Đây chính là giá trị dưỡng sinh nói chung hay phương thức thực dưỡng trong y học cổ truyền nói riêng. Tuy nhiên, nên tham khảo ý kiến bác sĩ khi điều trị bằng ngải cứu hoặc khi cơ thể đang có nhiều vấn đề cần giải quyết và ưu tiên hơn.

Youmed hi vọng bài viết đã giúp ích cho bạn!

Bác sĩ Hạ Chí Lộc

Chuyên mục:
| Ngày đăng: - Cập nhật lần cuối: 15/05/2020

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

  1. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội..
  2. Abad M. J. et al. (2012), “The artemisia L. Genus: a review of bioactive essential oils”, Molecules. 17 (3), pp. 2542-2566..
  3. Abiri R. et al. (2018), “Towards a better understanding of Artemisia vulgaris: Botany, phytochemistry, pharmacological and biotechnological potential”, Food Res Int. 109, pp. 403-415..
  4. Klonis N. et al. (2013), “Iron and heme metabolism in Plasmodium falciparum and the mechanism of action of artemisinins”, Curr Opin Microbiol. 16 (6), pp. 722-727..
  5. Sunday O. Oyedemi Roger M. Coopoosamy (2015), “Preliminary Studies on the Antibacterial and Antioxidative Potentials of Hydroalcoholic Extract from the Whole Parts of Artemisia vulgaris L.”, International Journal of Pharmacology. 11 (561-569)..

Tin Y Tế duy nhất tại Việt Nam đạt chứng chỉ HON
100% Biên soạn bởi BÁC SĨ, DƯỢC SĨ

Với số lượng bài viết lên đến hơn 10.000, Tin Y Tế YouMed là lựa chọn hàng đầu cho những ai có nhu cầu tìm hiểu kiến thức về sức khỏe. Nội dung trang đa dạng, bao gồm: cẩm nang y tế A-Z (bệnh học, dược, dược liệu), các chuyên đề sức khỏe, tin mới nhất trong ngành y tế cùng hàng ngàn bí quyết sống khỏe mỗi ngày.
Đặc biệt, YouMed là trang tin y tế duy nhất tại Việt Nam đạt chứng chỉ quốc tế HON - có quan hệ chính thức với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) - một chứng chỉ danh giá dành riêng cho các trang tin sức khỏe uy tín, đáng tin cậy như WebMD, Healthline, Mayo Clinic… Rất tự hào khi YouMed một thương hiệu Việt mang tầm quốc tế được HON ghi nhận.
Xin lưu ý, các bài viết không nhằm thay thế cho chẩn đoán hoặc phương pháp điều trị của từng cá nhân.

Đặt lịch khám dễ dàng cùng YouMed: