Quảng cáo

Cùng bác sĩ tìm hiểu về ung thư phổi tế bào nhỏ

Ung thư phổi là sự tăng sinh không kiểm soát của các tế bào ác tính ở phổi và cây khí phế quản. Ung thư phổi là hậu quả của sự tiếp xúc lâu với các tác nhân gây ung thư. Tế bào bất thường dẫn đến sự tăng sản, loạn sản, hoặc xâm lấn tại chỗ. Ung thư phổi tế bào nhỏ là một dạng ung thư phổi. Cùng bác sĩ tìm hiểu về nguyên nhân, dấu hiệu và cách điều trị chúng.

Ung thư phổi tế bào nhỏ là gì?

ung thư phổi
Ung thư phổi

Ung thư phế quản – phổi có thể phân loại thành các dạng sau theo phân loại mô học:

  • Ung thư phổi dạng tuyến: 40 – 45%
  • Ung thư phổi tế bào gai: 30 – 40%
  • Ung thư phổi tế bào lớn: 10 – 20%
  • Ung thư phổi tế bào nhỏ: 15 – 20%

Có thể thấy ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) ít phổ biến hơn so với ung thư phổi tế bào lớn (NSCLC). Tuy nhiên chúng vẫn chiếm khoảng 12 -15% tổng số ca ung thư phổi ở Hoa Kỳ. SCLC có xu hướng phát triển nhanh, di căn sớm. Chúng dễ dàng đến các bộ phận khác nhau trong cơ thể. Do đó tình trạng bệnh thường chỉ được chẩn đoán sau khi ung thư đã di căn khắp cơ thể, khó điều trị. Tuy nhiên nếu SCLC được phát hiện sớm, nó vẫn có thể được điều trị hiệu quả.

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến SCLC. Tuy nhiên những người không hút thuốc lá vẫn có thể mắc nó.

Nguyên nhân gây ra ung thư phổi tế bào nhỏ

Ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) có sự liên quan đến những thay đổi về cấu trúc gen. Cụ thể chúng thường do mất đoạn NST số 3, đột biến p53 hoặc bất hoạt gen Rb. Sự rối loạn về gen này khiến các tế bào phân chia không kiểm soát. Sự tăng sinh của tế bào diễn ra càng nhiều trong khi sự chết đi của chúng giảm đi khiến chúng tạo thành một khối u. Quá trình tân sinh những mạch máu mới vào khối u giúp chúng nhận nhiều oxy, chất dinh dưỡng hơn. Điều đó giúp chúng có sự chuyển hóa, hoạt động mạnh mẽ và hơn rất nhiều so với những tế bào bình thường. Theo thời gian, các tế bào ung thư tách khỏi khối u nguyên phát. Chúng sẽ tiến hành di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Theo Genetics Home Reference, hầu hết ung thư phổi là kết quả của những thay đổi bất thường xảy ra trong suốt cuộc đời của một người. Rất hiếm khi ung thư phổi do yếu tố di truyền di truyền.

Ai có nguy cơ bị ung thư

Những người hút thuốc lá là nhóm người có nguy cơ mắc ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) cao nhất. Gần như tất cả những người được chẩn đoán SCLC đều có tiền căn hút thuốc lá. Tình trạng này hiếm khi thấy ở những người không hút thuốc lá.

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi tế bào nhỏ
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi tế bào nhỏ

Nguy cơ phát triển SCLC tương ứng trực tiếp với số lượng thuốc bạn hút mỗi ngày và thời gian bạn hút thuốc. Điều này có nghĩa là nếu bạn hút nhiều thuốc lá mỗi ngày và đã hút thuốc lá từ lâu thì có nguy cơ mắc SCLC càng cao. Ngoài hút thuốc lá, hút xì gà, các loại thuốc lá tự chế, thuốc lào cũng nguy hiểm. Chúng cũng có khả năng khiến bạn mắc SCLC tương tự như thuốc lá.

Bạn cũng có thể tăng nguy cơ mắc SCLC nếu thường xuyên hít khói thuốc thụ động. Khói thuốc lá thụ động có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi lên gần 30%. Hơn 7.000 ca tử vong vì ung thư phổi do khói thuốc lá gây ra mỗi năm.

Một số chất trong môi trường cũng có thể khiến bạn bị tăng nguy cơ mắc ung thư phổi. Những chất này gọi là những chất gây ung thư. Chúng bao gồm:

  • Radon – một loại khí phóng xạ được tìm thấy trong đất.
  • Amiăng – một vật liệu trong xây dựng.
  • Uranium và các quặng kim loại phóng xạ khác.
  • Asen, silica và các sản phẩm than đá.
  • Khí thải diesel, ô nhiễm không khí.
  • Nước uống nhiễm asen.
  • Beta carotene.

Dấu hiệu của ung thư phổi tế bào nhỏ

Ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) thường không có triệu chứng. Khi các triệu chứng xuất hiện thường chỉ ra rằng ung thư đã di căn đến bộ phận khác của cơ thể. Ngoài ra các triệu chứng của SCLC không đặc hiệu và có thể trùng lẫn với các bênh lý khác. Điều này có thể làm trì hoãn chẩn đoán hoặc cho kết quả sai lệch với bệnh. Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng tăng lên khi ung thư càng phát triển và lây lan mạnh.

Một số triệu chứng mà SCLC có thể có là:

  • Khàn giọng.
  • Ho dai dẳng.
  • Ho ra máu, ho đàm hoặc trong đàm lẫn máu.
  • Khò khè, khó thở.
  • Mệt mỏi.
  • Nhiễm trùng đường hô hấp thường xuyên, dai dẳng.
  • Đau ngực hoặc đau khi vận động mạnh, ho hoặc cười.
  • Chán ăn, sụt cân.
  • Nuốt khó, nuốt đau.
  • Sưng ở mặt hoặc tĩnh mạch cổ.

Nếu có bất cứ triệu chứng nào trong số những triệu chứng bên trên kéo dài và gây phiền toái. Bạn hãy gọi ngay cho bác sĩ và đặt lịch khám sớm nhất. Có thể bạn không mắc SCLC nhưng tốt nhất bạn nên phát hiện sớm nếu có.

Cách điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ

Để biết rõ hơn về cách điều trị ung thư phổi, chúng ta cần biết các giai đoạn của nó. Khi mô tả về ung thư phổi tế bào nhỏ, các chuyên gia thường nói về ung thư giai đoạn giới hạn và ung thư giai đoạn lan rộng.

Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn

Trong ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) giai đoạn hạn chế, khối u hiện diện ở một bên phổi và hoặc trong các hạch bạch huyết (hạch lympho), trong trung thất (vùng giữa ngực, giữa hai phổi). Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS), khoảng 1/3 bệnh nhân bị SCLC ở giai đoạn giới hạn vào thời điểm được chẩn đoán. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, ưng thư đã lan ra ngoài vùng ngực nhưng không thấy trên tất cả xét nghiệm hình ảnh hiện có.

Hầu hết, những người bị SCLC giai đoạn giới hạn đều được điều trị bằng hóa trị kết hợp với xạ trị chiếu thẳng vào khối u trong ngực. Sau điều trị ban đầu này, bệnh nhân được tiếp tục xạ trị vào não để ngăn ngừa sự xuất hiện di căn não bộ. Mục tiêu điều trị ở giai đoạn này là chữa khỏi hẳn ung thư.

Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn lan rộng

Được định nghĩa là giai đoạn mà ung thư đã lây lan sang lồng ngực còn lại hoặc lan đến các vị trí xa hơn khác trong cơ thể. Các vị trí di căn phổi biến thường thấy là: phổi đối bên, gan, tuyến thượng thận, não bộ và xương. Hầu hết bệnh nhân mắc ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC) ở giai đoạn lan rộng tại thời điểm chẩn đoán (chiếm 2/3).

Những bệnh nhân bị SCLC giai đoạn này thường được điều trị bằng hóa trị; phẫu thuật không được lựa chọn. Giai đoạn này có thể coi không thể chữa lành. Mục tiêu điều trị là giảm các triệu chứng và kéo dài thời gian sống. Những người có đáp ứng tốt với hóa trị có thể xạ trị vào não để ngăn ngừa di căn não. Xạ trị có thể được dùng để điều trị ung thư tại vùng ngực và các vùng cơ thể khác để giảm các triệu chứng do di căn xa.

Hóa trị

Hóa trị là phương pháp dùng thuốc để tiêu diệt hoặc làm ngừng sự phát triển của tế bào ung thư. Hóa trị có thể coi là trụ cột chính trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ. Hóa trị tác dụng bằng cách can thiệp vào các tế bào có khả năng phân chia và sinh sản nhanh. Hầu hết các tế bào trong cơ thể tăng sinh bình thường nên chúng ít bị ảnh hưởng bởi hóa trị, ngoại trừ tủy xương, nang lông và niêm mạc ống tiêu hóa. Ảnh hưởng của hóa trị lên các mô này và các mô khác gây ra tác dụng phụ. Thuốc dùng hóa trị có thể dùng đường uống hoặc tiêm truyền qua tĩnh mạch. Chúng sẽ di chuyển qua đường máu đến các tế bào ung thư ở các cơ quan xa.

Mặc dù hóa trị đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị ung thư. Tuy nhiên nó vẫn có khả năng gây ra những tác dụng phụ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bạn. Các tác dụng phụ có thể gặp là:

  • Tiêu chảy.
  • Mệt mỏi.
  • Buồn nôn.
  • Phát ban.
  • Nôn.
  • Rụng tóc.
  • Chán ăn.
  • Khô miệng.
  • Lở miệng.

Nhìn chung phương pháp này có thể kéo dài tuổi thọ của một người. Tuy nhiên hóa trị không có khả năng chữa khỏi ung thư.

Xạ trị

Xạ trị thường được đề nghị kết hợp trong quá trình hóa trị ở những bệnh nhân bị ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn giới hạn. Phương pháp này sử dụng tia X năng lượng cao tập trung vào các vị trí cụ thể của khối u để tiêu diệt tế bào ung thư. Ảnh hưởng của tia xạ tích lũy với một lượng xạ nhất định có thể làm các tế bào ung thư hư hại đến chết.

Tia xạ được chiếu vào vùng cơ thể bị ảnh hưởng bởi ung thư. Khác với hóa trị, xạ trị là phương pháp điều trị cục bộ/ tại chỗ. Xạ trị chỉ gây ra các tác dụng phụ ở khu vực chiếu xạ. Nói chung xạ trị có thể cải thiện cơ hội sống sót ở cả giai đoạn hạn chế và giai đoạn rộng. Nó cũng giảm triệu chứng giai đoạn sau.

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể có ích nếu khối u nhỏ và hạn chế. Mặc dù đã phẫu thuật, nhưng bệnh nhân mắc ung thư phổi tế bào nhỏ vẫn phải hóa trị, xạ trị hoặc cả hai sau khi phẫu thuật.

Ung thư phổi tế bào nhỏ là một loại ung thư phổi thường không có triệu chứng. Chúng diễn tiến âm thầm và di căn rất sớm. Yếu tố nguy cơ lớn nhất dẫn đến ung thư phổi tế bào nhỏ là hút thuốc lá. Đồng thời tiếp xúc với các chất độc có trong môi trường cũng làm tăng nguy cơ mắc ung thư. Hãy liên lạc với bác sĩ ngay khi bạn xuất hiện những dấu hiệu bên trên để kịp thời phát hiện và điều trị chúng ở giai đoạn sớm. Điều đó có thể giúp bạn hoàn toàn khỏi bệnh và kéo dài hơn tuổi thọ của bạn.

Có thể bạn quan tâm

YouMed - Tin Y Tế duy nhất tại Việt Nam đạt chứng chỉ HONcode - 100% biên soạn bởi Bác sĩ, Dược sĩ

Health on the Net (HON) là một tổ chức y khoa quốc tế được thành lập vào năm 1995 tại Geneva, Thụy Sĩ. Từ đó đến nay, HON đã thực hiện chứng nhận cho các trang web y tế uy tín hàng đầu thế giới như WebMD, Mayo Clinic… Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ (US National Library of Medicine – NLM) gợi ý chứng nhận “HONcode” là một trong những cơ sở để xác định sự tin cậy của một trang tin chuyên về y tế.