Thông tin bảo trợ bởi

Vitamin E liệu có đem lại tác dụng thật sự?

Vitamin E liệu có đem lại tác dụng thật sự

Vitamin E là một chất dinh dưỡng quan trọng đối với sức khỏe. Nó là chìa khóa để có hệ miễn dịch, làn da, đôi mắt khỏe mạnh. Trong những năm gần đây, bổ sung vitamin E đã trở nên phổ biến như chất chống oxy hóa. Tuy nhiên, những rủi ro và lợi ích của việc bổ sung vẫn chưa rõ ràng. Vitamin E có thể được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm. Cách tốt nhất để tiêu thụ là thông qua chế độ ăn uống lành mạnh. Việc thiếu hụt vitamin E là rất hiếm. Tuy nhiên, tình trạng quá liều do tự ý sử dụng đang là mối quan tâm của nhiều người. 

1. Giới thiệu

Vitamin E được tìm thấy tự nhiên trong một số thực phẩm và các chất bổ sung. Nó là tên gọi chung của một nhóm các hợp chất hòa tan trong chất béo. Chúng có các hoạt động chống oxy hóa đặc biệt.

Vitamin E tự nhiên tồn tại ở 8 dạng hóa học: alpha-, beta-, gamma- và delta-tocopherol và alpha-, beta-, gamma- và delta-tocotrienol. Chúng có mức độ hoạt động sinh học khác nhau. Alpha-tocopherol là hình thức duy nhất được công nhận đáp ứng yêu cầu của con người.

Nồng độ alpha-tocopherol trong huyết thanh phụ thuộc vào gan.

Chất này được chuyển thành chất dinh dưỡng sau khi được hấp thụ từ ruột non. Gan ưu tiên chỉ phục hồi alpha-tocopherol thông qua protein ở gan. Gan chuyển hóa và bài tiết các dạng khác. Kết quả, nồng độ trong máu và tế bào của các dạng khác thấp hơn.

Cấu trúc hóa học của vitamin E
Cấu trúc hóa học của vitamin E

Vitamin E là một chất chống oxy hóa hòa tan trong chất béo. Nó ngăn chặn quá trình sản xuất ROS. Chất được hình thành khi chất béo trải qua quá trình oxy hóa.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu: Bằng cách hạn chế sản xuất gốc tự do và có thể thông qua các cơ chế khác, vitamin E liệu có thể giúp ngăn ngừa hoặc trì hoãn các bệnh mãn tính liên quan đến các gốc tự do?

  • Ngoài các hoạt động chống oxy hóa, vitamin E còn liên quan đến chức năng miễn dịch.

Điều này được thể hiện qua các nghiên cứu in vitro về: tế bào, tín hiệu tế bào, điều hòa biểu hiện gen và các quá trình trao đổi chất khác. Alpha-tocopherol ức chế hoạt động của protein kinase C. Đó là một loại enzyme liên quan đến sự tăng sinh và biệt hóa tế bào trong các tế bào: cơ trơn, tiểu cầu và bạch cầu đơn nhân. 

  • Nhờ vitamin E, các tế bào nội mô lót trên bề mặt thành mạch máu có khả năng chống lại các tế bào máu bám chặt vào bề mặt này tốt hơn.

Nó cũng làm tăng sự biểu hiện của hai enzyme ức chế chuyển hóa axit arachidonic. Do đó làm tăng sự phóng thích của prostacyclin từ nội mạc, làm giãn mạch máu và ức chế kết tập tiểu cầu.

2. Vitamin E và các vấn đề sức khỏe

Nhiều tuyên bố đưa ra về tiềm năng vitamin E trong tăng cường sức khỏe và ngăn ngừa, điều trị bệnh. Vitamin E hoạt động như một chất chống oxy hóa. Nó có vai trò trong các quá trình chống viêm, ức chế kết tập tiểu cầu và tăng cường miễn dịch. Tuy nhiên, hiện nay các bằng chứng nghiên cứu về vai trò của nó đối với một số bệnh lý vẫn chưa rõ ràng.

Bệnh tim, mạch vành

Vitamin E có thể giúp ngăn ngừa hoặc trì hoãn bệnh tim mạch vành (CHD). Các nghiên cứu in vitro đã phát hiện ra rằng: chất dinh dưỡng ức chế quá trình oxy hóa cholesterol lipoprotein mật độ thấp (LDL). Đó được cho là một bước khởi đầu quan trọng cho điều trị xơ vữa động mạch. Vitamin E cũng có thể giúp ngăn ngừa sự hình thành cục máu đông dẫn đến đau tim hoặc huyết khối tĩnh mạch.

Tuy nhiên, các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đặt ra nghi ngờ về hiệu quả của việc bổ sung vitamin E để ngăn ngừa CHD. Các thử nghiệm HOPE và HOPE-QUA cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng: bổ sung vitamin E liều cao vừa phải không làm giảm nguy cơ biến cố tim mạch nghiêm trọng ở nam và nữ > 50 tuổi mắc bệnh tim hoặc tiểu đường. 

Chưa có nhiều bằng chứng cho thấy vitamin E làm giảm nguy cơ bệnh tim, mạch vành
Chưa có nhiều bằng chứng cho thấy vitamin E làm giảm nguy cơ bệnh tim, mạch vành

Nhìn chung, các thử nghiệm lâm sàng không cung cấp bằng chứng cho thấy việc sử dụng bổ sung vitamin E thường xuyên ngăn ngừa bệnh tim mạch hoặc làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và tử vong. Những người tham gia trong các nghiên cứu này phần lớn là trung niên, cao tuổi mắc bệnh tim hoặc các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim.

Ung thư

Các chất chống oxy hóa bảo vệ các thành phần tế bào khỏi tác hại của các gốc tự do. Nếu không được kiểm soát, các gốc tự do có thể góp phần vào sự phát triển ung thư. Vitamin E cũng có thể ngăn chặn sự hình thành các nitrosamine. Chúng hình thành ở dạ dày từ nitrit trong thực phẩm.

Ngoài ra, loại vitamin này còn giúp chống ung thư bằng cách tăng cường chức năng miễn dịch. Thật không may, các thử nghiệm và khảo sát ở người đã cố gắng liên kết lượng vitamin E với tỉ lệ mắc ung thư đã phát hiện ra rằng: vitamin E không có lợi trong hầu hết các trường hợp.

Nó có thể hỗ trợ điều trị ung thư, dù chưa có nhiều kết quả khẳng định
Nó có thể hỗ trợ điều trị ung thư, dù chưa có nhiều kết quả khẳng định

Cả hai thử nghiệm của HOPE và Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ, đã đánh giá: liệu bổ sung vitamin E có thể bảo vệ con người khỏi ung thư hay không? HOPE theo dõi nam và nữ ≥ 55 tuổi bị bệnh tim hoặc tiểu đường trong 7 năm. Không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về số ca ung thư mới hoặc tử vong do ung thư giữa các cá nhân được chỉ định ngẫu nhiên dùng 400 IU/ngày vitamin E  hoặc giả dược.

Bằng chứng cho đến nay không đủ để hỗ trợ việc uống vitamin E ngăn ngừa ung thư. Trên thực tế, sử dụng hằng ngày các chất bổ sung vitamin E liều lớn (400 IU chất tổng hợp) có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

Rối loạn mắt

Thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác (AMD) và đục thủy tinh thể là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây giảm thị lực đáng kể ở người lớn tuổi. Nguyên nhân của chúng thường không được biết. Nhưng các tác động tích lũy của stress, oxy hóa đã được đặt ra. Nếu vậy, các chất chống oxy hóa có thể được sử dụng để ngăn ngừa những tình trạng này.

Tuy nhiên, các bằng chứng sẵn có không nhất quán về việc bổ sung vitamin E một mình hay kết hợp với các chất chống oxy hóa khác, có thể làm giảm nguy cơ phát triển AMD hoặc đục thủy tinh thể. Các công thức kết hợp vitamin E và các chất chống oxy hóa khác như: kẽm và đồng, được sử dụng hứa hẹn sẽ làm chậm sự tiến triển của AMD ở những người có nguy cơ cao.

Kết hợp vitamin E với các chất khác có thể làm chậm tiến triển của thoái hóa điểm vàng
Kết hợp vitamin E với các chất khác có thể làm chậm tiến triển của thoái hóa điểm vàng

Suy giảm nhận thức

Não có tỉ lệ tiêu thụ oxy và axit béo không bão hòa dồi dào trong màng tế bào thần kinh cao. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng: nếu tổn thương do tích lũy gốc tự do đối với các tế bào thần kinh theo thời gian sẽ góp phần làm suy giảm nhận thức. Đồng thời, nó gây ra các bệnh thoái hóa thần kinh, như bệnh Alzheimer. Việc ăn hoặc bổ sung các chất chống oxy hóa có thể cung cấp sự bảo vệ.

Tiêu thụ vitamin E từ thực phẩm hoặc chất bổ sung có liên quan đến việc giảm nhận thức ít hơn 3 năm.

Tuy nhiên, một thử nghiệm lâm sàng ở những phụ nữ lớn tuổi khỏe mạnh chủ yếu được chỉ định ngẫu nhiên sử dụng 600 IU (402 mg) d-alpha-tocopherol mỗi ngày hoặc giả dược trong ≤ 4 năm cho thấy: các chất bổ sung không mang lại lợi ích nhận thức rõ ràng.

>> Bạn có thể tìm hiểu thêm về loại vitamin này trong bài viết 10 công dụng tuyệt vời của vitamin E bạn nên biết!

3. Chúng ta cần bao nhiêu vitamin E?

  • Mức khuyến nghị (RDA) cho vitamin E là: 15 mg cho những người trên 14 tuổi.
  • Phụ nữ đang cho con bú có thể cần thêm một chút vitamin E. Vì vậy, RDA  là 19 mg. Liều dưới 1.000 mg dường như an toàn cho hầu hết người lớn.
  • Đối với trẻ sơ sinh đến 6 tháng tuổi: 4 mg.
  • Trẻ từ 6 tháng đến 1 tuổi: RDA là 5 mg. 
  • Từ 1 đến 3 tuổi, 4 đến 8 tuổi và 9 đến 13 tuổi: RDAs cho vitamin E lần lượt là: 6 mg (9 IU), 7 mg (10,4 IU) và 11 mg (16,4 IU).

Hầu hết mọi người có thể nhận đủ vitamin E từ chế độ ăn uống lành mạnh. Luôn luôn tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ chất bổ sung nào, đặc biệt nếu bạn đang dùng thuốc. Hơn 250 loại thuốc được biết là tương tác với vitamin E, theo trang web Drugs.

Chế độ ăn hằng ngày cũng đã có nhiều loại vitamin này
Chế độ ăn hằng ngày cũng đã có nhiều loại vitamin này

4. Nguồn bổ sung 

Thực phẩm

Nhiều loại thực phẩm cung cấp vitamin E. Các loại hạt và dầu thực vật là một trong những nguồn cung cấp tốt nhất. Ngoài ra, vitamin E cũng có sẵn trong các loại rau lá xanh và ngũ cốc. Hầu hết vitamin E trong chế độ ăn uống đều ở dạng gamma-tocopherol. Chúng chứa trong: đậu tương, cải dầu, ngô và các loại dầu thực vật .

Viên bổ sung

Các chất bổ sung vitamin E thường chỉ cung cấp alpha-tocopherol. Mặc dù các sản phẩm hỗn hợp trên có thể chứa các tocopherol khác và thậm chí là tocotrienols cũng có sẵn. Alpha-tocopherol xuất hiện tự nhiên tồn tại ở một dạng stereoisomeric.

Ngược lại, alpha-tocopherol được sản xuất tổng hợp có chứa một lượng bằng nhau của 8 đồng phân lập thể có thể có của nó. Huyết thanh và mô chỉ duy trì 4 trong số này. Do đó, alpha-tocopherol tổng hợp chỉ hoạt động bằng một nửa so với cùng một lượng tự nhiên.

Viên bổ sung
Viên bổ sung

Hầu hết các chất bổ sung chỉ cung cấp ≥ 67 mg vitamin E. Mức này cao hơn đáng kể so với RDAs.

Alpha-tocopherol được bổ sung vào chế độ ăn uống và thực phẩm tăng cường thường được este hóa. Mục đích nhằm kéo dài thời hạn sử dụng, bảo vệ các đặc tính chống oxy hóa. Cơ thể thủy phân và hấp thụ các este này hiệu quả như alpha-tocopherol.

5. Thiếu hụt vitamin E

Thiếu vitamin E rất hiếm. Các triệu chứng thiếu hụt quá mức ít tìm thấy ở những người khỏe mạnh có chế độ ăn uống ít vitamin E. Trẻ sinh non nhẹ cân (< 1.500 g) có thể bị thiếu vitamin E. Bổ sung vitamin E ở những trẻ này có thể làm giảm nguy cơ mắc một số biến chứng. Chẳng hạn như ảnh hưởng đến võng mạc. Nhưng chúng cũng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Vì đường tiêu hóa đòi hỏi chất béo để hấp thụ vitamin E, những người bị rối loạn hấp thu chất béo có nhiều khả năng bị thiếu hơn những người bình thường.

Các triệu chứng thiếu hụt bao gồm:
  • Bệnh lý thần kinh ngoại biên.
  • Bệnh cơ xương.
  • Suy giảm đáp ứng miễn dịch.
  • Bệnh võng mạc.

Ví dụ: những người mắc bệnh Crohn, xơ nang hoặc không có khả năng tiết mật từ gan vào đường tiêu hóa. Họ thường cần dạng vitamin E tan trong nước. Chẳng hạn như tocopheryl polyethylen glycol-1000 succinate.

Một số người mắc bệnh abephipoproteinemia, một rối loạn di truyền hiếm gặp dẫn đến việc hấp thụ chất béo trong chế độ ăn uống kém. Họ cần một lượng lớn vitamin E bổ sung (khoảng 100 mg/kg). Thiếu vitamin E thứ phát sau abephipoprotein huyết gây ra các vấn đề như: truyền xung thần kinh kém, yếu cơ và thoái hóa võng mạc dẫn đến mù lòa.

6. Quá liều vitamin E

Khi dùng với liều thích hợp, việc sử dụng vitamin E qua đường uống thường được coi là an toàn.

Dù hiếm gặp nhưng sử dụng bằng đường uống có thể gây ra:
  • Buồn nôn.
  • Bệnh tiêu chảy.
  • Chuột rút ruột.
  • Mệt mỏi.
  • Yếu đuối.
  • Đau đầu.
  • Nhìn mờ.
  • Phát ban.
  • Rối loạn chức năng tuyến sinh dục.
  • Tăng nồng độ creatine trong nước tiểu (creatin niệu).
Dùng quá liều có thể gây tác dụng phụ
Dùng quá liều có thể gây tác dụng phụ

Dùng vitamin E liều cao hơn có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ. Ngoài ra, có mối lo ngại rằng:  những người có sức khỏe kém sử dụng vitamin E liều cao có nguy cơ tử vong cao.

Sử dụng vitamin E có thể tương tác với nhiều điều kiện. Ví dụ, nghiên cứu cho thấy rằng: sử dụng vitamin E bằng đường uống có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Một nghiên cứu khác cho thấy: sử dụng nó có thể làm tăng nguy cơ tử vong ở người có tiền sử bệnh tim. Chẳng hạn như đau tim hoặc đột quỵ.

Cần tham khảo ý kiến bác sĩ nếu bạn ở trong những tình trạng sau:
  • Thiếu vitamin K.
  • Viêm sắc tố võng mạc.
  • Rối loạn chảy máu.
  • Bệnh tiểu đường.
  • Tiền sử đau tim hoặc đột quỵ trước đó.
  • Ung thư đầu cổ.
  • Bệnh gan.

Việc bổ sung có thể làm tăng nguy cơ chảy máu của bạn. Nếu dự định phẫu thuật, hãy ngừng dùng vitamin E trước 2 tuần. Ngoài ra, hãy nói với bác sĩ về việc sử dụng vitamin E nếu bạn sắp có hoặc vừa làm thủ thuật nong mạch vành.

7. Tương tác của vitamin E với thuốc

Vitamin E có khả năng tương tác với một số loại thuốc. Những người dùng các loại thuốc này thường xuyên nên thảo luận với bác sĩ trước.

Thuốc chống đông máu và thuốc chống kết tập tiểu cầu

Vitamin E có thể ức chế kết tập tiểu cầu và đối kháng các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K. Do đó, dùng liều lớn với thuốc chống đông máu hoặc thuốc chống tiểu cầu, như warfarin (Coumadin®), có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. Đặc biệt là kết hợp với lượng vitamin K thấp. Lượng bổ sung cần thiết để tạo ra các tác dụng đáng kể về mặt lâm sàng chưa được biết, nhưng có thể vượt quá 400 IU/ngày.

Simvastatin và niacin

Một số người bổ sung vitamin E cùng với các chất chống oxy hóa khác. Chẳng hạn như vitamin C, selen và beta-carotene. Nhóm các thành phần chống oxy hóa này đã làm giảm mức tăng cholesterol lipoprotein mật độ cao (HDL), đặc biệt là mức HDL2. Đây là thành phần HDL tốt cho tim mạch nhất. Nhất là nếu được điều trị kết hợp với simvastatin và niacin.

>> Tìm hiểu thêm: Thuốc điều trị mỡ máu Simvastatin và những điều cần lưu ý.

Thuốc có tương tác với vitamin E
Thuốc có tương tác với vitamin E

Hóa trị và xạ trị

Các bác sĩ thường khuyên không nên sử dụng những chất bổ sung chống oxy hóa trong quá trình hóa trị hoặc xạ trị. Chúng có thể làm giảm hiệu quả của các liệu pháp này bằng cách ức chế tổn thương oxy hóa tế bào ung thư. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thêm để đánh giá rủi ro và lợi ích tiềm năng của việc bổ sung chất chống oxy hóa đồng thời với các liệu pháp thông thường cho bệnh ung thư.

Vitamin E là chất đóng vai trò quan trọng đối với nhiều vấn đề sức khỏe. Dù vậy, vai trò của nó vẫn còn đang được kiểm chứng thêm. Với hoạt động tương tự chất chống oxy hóa, nó hỗ trợ cho hệ miễn dịch, tim mạch, da…Việc bổ sung vitamin E cần có sự kiểm soát để tránh tình trạng quá liều.

Bác sĩ Trương Mỹ Linh

Chuyên mục:
| Ngày đăng: - Cập nhật lần cuối: 24/09/2020

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

1/ NIH team, “Vitamin E”, đăng nhập ngày 28-02-2020 tại website https://ods.od.nih.gov

2/ “vitamin E”, đăng nhập tại website: https://www.webmd.com

3/ Mayo clinic staff, ” vitamin E”, đăng nhập ngày 18-10-2017 tại website https://www.mayoclinic.org

 

Tin Y Tế duy nhất tại Việt Nam đạt chứng chỉ HON
100% Biên soạn bởi BÁC SĨ, DƯỢC SĨ

Với số lượng bài viết lên đến hơn 10.000, Tin Y Tế YouMed là lựa chọn hàng đầu cho những ai có nhu cầu tìm hiểu kiến thức về sức khỏe. Nội dung trang đa dạng, bao gồm: cẩm nang y tế A-Z (bệnh học, dược, dược liệu), các chuyên đề sức khỏe, tin mới nhất trong ngành y tế cùng hàng ngàn bí quyết sống khỏe mỗi ngày.
Đặc biệt, YouMed là trang tin y tế duy nhất tại Việt Nam đạt chứng chỉ quốc tế HON - có quan hệ chính thức với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) - một chứng chỉ danh giá dành riêng cho các trang tin sức khỏe uy tín, đáng tin cậy như WebMD, Healthline, Mayo Clinic… Rất tự hào khi YouMed một thương hiệu Việt mang tầm quốc tế được HON ghi nhận.
Xin lưu ý, các bài viết không nhằm thay thế cho chẩn đoán hoặc phương pháp điều trị của từng cá nhân.